Tìm hiểu công dụng điều trị bệnh của cây Quýt từ Y sĩ YHCT Sài Gòn

Quýt là loại cây ăn quả nhưng cũng là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền. Các bộ phận của cây Quýt đều có tác dụng chữa bệnh như lá quýt, vỏ quýt, hạt quýt, xơ quýt…

Tìm hiểu công dụng điều trị bệnh của cây Quýt từ Y sĩ YHCT Sài Gòn
Tìm hiểu công dụng điều trị bệnh của cây Quýt từ Y sĩ YHCT Sài Gòn

Hãy cùng các Y sĩ Y học cổ truyền Sài Gòn tại Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cùng tìm hiểu về tác dụng điều trị bệnh của những bộ phận từ cây Quýt qua bài viết dưới đây:

Tác dụng lý khí khoan trung từ quả Quýt chín

Quả Quýt chín nấu với mật ong hoặc mật mía được Đông y gọi là “quất bính”. Có vị cay, ngọt, tính ấm, vào kinh phế, tỳ vị, can có tác dụng lý khí khoan trung.

Lá Quýt trị mụn nhọt

Lá Quýt hay quất diệp trong Y học cổ truyền có vị cay, tính ôn, có mùi thơm đặc biệt, vào kinh can và vị. Thuốc có tác dụng giáng khí thanh nhiệt phát tán. Trị trong các trường hợp người bệnh sốt cao, đau tức vùng ngực và mạng sườn, có tác dụng trị mụn nhọt. Đặc biệt đây còn là vị thuốc dùng để điều trị chứng nhũ ung (viêm vú của phụ nữ).

Bài thuốc chữa bệnh từ vỏ Quýt

Trong Y học cổ truyền, vỏ Quýt xanh được gọi là Thanh bì, có mùi thơm, vị đắng, cay tính ôn, vào các kinh: can, đờ các chứng như m, tỳ vị; có tác dụng phá khí, sơ can, tiêu tích hóa trệ được dùng để điều trị bệnh sán khí (thoát vị bẹn), hạch ở vú, ngực sườn đau tức, viêm vú, thức ăn tích lại trong dạ dày sinh ra chứng đầy trướng đau bụng. Người bệnh có thể phối hợp với một số vị thuốc khác để điều trị, ngày dùng từ 8-12g.

Bài thuốc điều trị chứng bụng trướng đầy khó chịu, tích đau bụng: thanh bì 12g, thần khúc 12g, mạch nha 12g, sơn tra 8g, thảo quả 8g. Tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 10g pha với nước đun sôi để ấm.

Điều trị chứng ho, nôn ọe từ vỏ Quýt

Vỏ Quýt chín trong Y học cổ truyền được gọi là Quất hồng bì, vị cay đắng, tính ôn vào kinh tỳ, phế và vị (dạ dày), có tác dụng hóa đờm, giáng khí kiện tỳ táo thấp. Các Y sĩ Y học cổ truyền thường dùng quất hồng bì trị chứng khí uất trong phế (phổi). Ngày dùng từ 6-12g phối hợp với các vị thuốc khác.

Điều trị chứng nôn ọe từ bài thuốc Quất hồng bì: Quất hồng bì, sinh khương lượng bằng nhau, sắc uống khi thuốc còn nóng, ngày uống 2 lần trước khi ăn.

Bài thuốc trị ho nhiều đờm, cơ thể suy nhược: Quất hồng bì 12g, cát cánh 12g, nhân sâm 8g, xuyên bối mẫu 8g, cam thảo 6g. Ngày một thang sắc uống 2 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

Đối với vỏ Quýt lâu năm, các bậc thầy trong đông y gọi là Trần bì. Vỏ Quýt chín phơi khô gói vào rơm, rạ hoặc mo cau, để lên giàn bếp sau 30 năm hoặc lâu hơn càng tốt. Theo Y học cổ truyền, trần bì có bị đắng, cay, tính ôn vào phần khí của hai kinh tỳ và phế. Tác dụng điều lý ở phần khí, táo thấp, hóa đờm, hành trệ, làm mạnh tỳ vị giúp cho tiêu hóa tốt, tiêu hàn tích.

Trần bì có hiệu quả trong trị các chứng nôn mửa, ho nhiều đờm, sinh chứng nôn mửa, khí của can (gan) nghịch lên đau tức vùng ngực, tiêu thực, trị chứng ỉa chảy, nhiệt tích ở bàng quang sinh chứng đái dắt, tích nước phù thũng. Liều dùng từ 6-12g và có thể dùng cao hơn.

Trần bì có tác dụng điều trị sốt rét do ngã nước: Trần bì 20g, thanh bì 20g, thường sơn (tẩm rượu sao) 20g, binh lang (hạt cau già) 10g. Đổ 3 bát nước (bát ăn cơm) sắc lấy 1 bát, cho bệnh nhân uống ấm trước khi lên cơn sốt, uống 3-5 ngày bệnh sẽ khỏi.

Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn tuyển sinh Văn bằng 2 Trung cấp Y sĩ Y học cổ truyền Sài Gòn
Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn tuyển sinh Văn bằng 2 Trung cấp Y sĩ Y học cổ truyền Sài Gòn

Trị bệnh từ xơ ở ngoài múi Quýt

Xơ ở ngoài múi Quýt còn được gọi là quất lạc, có vị cay, hơi ngọt, tính ấm, có tác dụng thông kinh hoạt lạc, phối hợp với một số vị thuốc khác trị chứng kinh phong, xuất huyết từng đám ngoài da ở trẻ em.

Bài thuốc trị bệnh từ quất hạch

Y học cổ truyền gọi hạt Quýt là quất hạch, có vị đắng hơi cay, trị chứng sa đì, , tính ôn vào kinh tỳ và thận, có tác dụng tinh hoàn lạnh không sinh ra tinh trùng, liễm khí sinh tân, kết hợp với hạt vải (lệ chi hạch) và một số vị thuốc khác trị chứng vô sinh của nam giới rất tốt.

Trị chứng phong tê thấp tay chân đau nhức tê bại từ vỏ cây Quýt

Đông y gọi vỏ cây Quýt là quất thụ bì, cạo sạch vỏ đen ở ngoài lấy 200g ngâm với 1.000ml rượu trắng 30độ trong 20 ngày, mỗi tối uống 20ml trước khi ăn. Trị chứng phong tê thấp tay chân đau nhức tê bại.

Các Y sĩ Y học cổ truyền tại Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn nhận định rằng cây Quýt có rất nhiều công dụng trong điều trị bệnh nếu biết cách phối hợp cũng như sử dụng. Để làm được điều này, bạn nên tìm hiểu thật kỹ cũng như tham khảo ý kiến từ các nhà chuyên môn.